Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một yêu cầu cấp bách, bảo đảm nâng cao chất lượng lao động, từ đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ ở nông thôn, đem lại thu nhập cho người lao động và sự phồn vinh của nông thôn.
Không có nghề, không thể giàu
Kết thúc năm 2009, kinh tế nước ta đã có những dấu hiệu phục hồi rõ nét; trong đó, có vai trò quan trọng của nông nghiệp. Có thể kể ra những điểm nổi trội nhất của nông nghiệp năm 2009 là: sản lượng lúa gạo đạt mức kỷ lục; lượng gạo xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay; tốc độ tăng đàn gia cầm cũng đạt mức cao nhất từ trước đến nay; hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu tuy có giảm về giá trị (do giả xuất khẩu giảm) nhưng vẫn tăng về số lượng…
Tuy nhiên, năng suất, chất lượng của sản phẩm hàng hóa nông nghiệp vẫn còn thấp xa so với tiềm năng cũng như so với một số nước trong khu vực. Một nguyên nhân chủ yếu trong đó là chất lượng lao động trong nông thôn còn quá thấp.
Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của người lao động không thể tăng nhanh; gây ra chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng giãn xa thêm; và trong nông thôn, vẫn còn chênh lệch đáng kể về thu nhập giữa lao động có nghề và lao động không nghề.
Chính sách xóa đói giảm nghèo tuy đã đạt được một số kết quả, nhưng rõ ràng không thể chỉ dừng lại ở chỗ cấp đất, tặng nhà, thực hiện các chính sách “ưu đãi” hộ nghèo, mà việc giảm nghèo phải được thực hiện chủ yếu bằng việc nâng cao chất lượng lao động của lao động nông thôn; nói cách khác, bằng việc đào tạo nghề cho họ, để họ có thể thoát nghèo và giàu lên ngay trên mảnh đất quê hương họ.
Trong các làng nghề, thu nhập của người lao động thường cao gấp 2 - 3 lần hoặc hơn nữa so với lao động ở các làng thuần nông là một thực tế có sức thuyết phục. Tất nhiên, có thể đưa lao động từ tỉnh nghèo sang tỉnh có điều kiện phát triển hơn hoặc đưa lao động nghèo đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, coi đây như là một giải pháp giảm nghèo, nhưng không thể coi là giải pháp cơ bản.
Trong nông thôn hiện nay, người lao động cần được đào tạo về tất cả những nghề có tác dụng trực tiếp phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn mới. Nhu cầu thâm canh, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi để tăng thêm số lượng và nhất là tăng thêm chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm vẫn đòi hỏi người lao động nông nghiệp có thêm những kỹ năng mới, kể cả về nước, phân, cần, giống với công cụ và vật tư theo công nghệ mới.
Cùng với việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi là việc tăng thêm giá trị của hàng hóa bằng các ngành nghề chế biến nông sản - ngành công nghiệp đặc biệt quan trọng đối với những nước nông nghiệp song lâu nay chưa được coi trọng, dẫn đến tình trạng xuất khẩu nông sản dưới dạng thô kéo dài từ nhiều năm nay. Đó cũng là những ngành nghề phi nông nghiệp đã được nâng cao trở thành những ngành nghề thủ công mỹ nghệ - có nơi đã thành truyền thống được ưa chuộng ở trong nước và nước ngoài không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà chủ yếu là giá trị văn hóa của sản phẩm.
Cùng với các ngành trong khu vực sản xuất, còn rất cần dạy cho lao động nông thôn các nghề thuộc khu vực dịch vụ, từ các dịch vụ cho đời sống hằng ngày của người dân đến những dịch vụ tài chính, ngân hàng… cần thiết cho sản xuất, kinh doanh ở nông thôn. Và cũng không nên quên việc đào tạo những người chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh - những doanh nhân xuất thân từ nông thôn, kinh doanh vì nông thôn rồi vươn ra tầm xa hơn, vì không có họ đầu tư vốn và quản lý, điều hành, người lao động sẽ không có chỗ làm việc và của cải xã hội cũng khó mà sinh sôi, nảy nở.
Sự tham gia của các tổ chức xã hội
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Chính phủ đã đề cập khá đầy đủ, từ chương trình, giáo trình đến việc mở trường, lớp, trang thiết bị và giáo viên, v.v… Tuy vậy, một vấn đề lớn được đặt ra là làm sao cho việc dạy nghề đáp ứng đúng nhu cầu của sản xuất, kinh doanh của mỗi địa phương, có kết quả thiết thực, tránh được tình trạng “dạy cái ta có, không dạy cái thị trường cần”, hoặc “cái cần thì không dạy, cái không cần thì lại dạy”.
Muốn được như vậy, thì tất yếu phải thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (các hội, hiệp hội), cũng là “xã hội hóa” việc đào tạo, không thể chỉ dựa vào hệ thống trường, lớp của các cơ sở công lập. Cái khó ở đây là việc phân phối nguồn kinh phí đào tạo của Nhà nước (theo Đề án nói trên, tổng kinh phí riêng cho đào tạo nghề lên đến 24.694 tỉ đồng), làm sao tận dụng được các cơ sở đào tạo công lập đã được xây dựng từ hàng chục năm nay, lại vừa có kinh phí để huy động được sự tham gia của các tổ chức xã hội?
Cả nước hiện có 90 trường cao đẳng, 214 trường trung cấp, 684 trung tâm dạy nghề và trên 1.000 cơ sở khác có dạy nghề (theo VNExpress ngày 6/1/2009); nhiều trường thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội được xây dựng bề thế. Thế nhưng việc dạy nghề trong nhiều trường công lập chưa đạt yêu cầu, chưa gắn với nhu cầu của sản xuất, kinh doanh, do đó nhiều người học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc nơi tiếp nhận họ phải tốn thêm thời gian và kinh phí để đào tạo lại.
Cũng có nguyên nhân do các trường này thiếu trang thiết bị cần thiết cho việc dạy và học, thiếu kinh phí, thiếu thầy giỏi, địa điểm tổ chức lớp không thuận tiện cho việc đi lại của học viên… Đã có tình trạng trường lớp công lập tuyển sinh không đủ chỉ tiêu, mặc dù đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích lao động nông thôn đến học, nhưng họ vẫn không đến.
Trong khi đó, với chức năng của mình, nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp như các hội, hiệp hội đã chủ động tổ chức nhiều trường lớp dạy nghề hoặc bổ túc nghề cho người lao động đạt kết quả tốt. Doanh nghiệp và người lao động hoan nghênh những trường lớp này vì ở đây đã gắn được nội dung đào tạo với nhu cầu của đơn vị sử dụng, sau khi học, người lao động sớm có chỗ làm việc phù hợp với thu nhập đủ sống.
Đào tạo nghề ở nông thôn không thể không chú trọng việc phát triển các ngành nghề thủ công, nhất là thực hiện Chương trình “Mỗi làng, một nghề” đang được triển khai. Trong nông thôn, đang có một số nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cần được bảo tồn và có khả năng phát triển cần được quan tâm đưa vào chương trình dạy nghề, đó là các nghề: chế biến gỗ, sơn mài, chạm, khảm; làm đồ gốm; làm đồ đồng; nghề mây tre đan; nghề thêu ren; nghề dệt (lụa, thổ cẩm)…
Song đáng quan tâm là một số nghề truyền thống nói trên đang có nguy cơ mai một, vì người lao động không thiết tha với nghề, thậm chí bỏ làng đi kiếm việc nơi xa để có thu nhập cao hơn. Do đó, việc đào tạo nghề thủ công, trong đó đặc biệt là thủ công mỹ nghệ cho lao động nông thôn là hết sức cấp thiết không chỉ vì thu nhập và đời sống của lao động nông thôn, mà còn nhằm bảo tồn và phát triển những ngành nghề truyền thống, lưu giữ những tinh hoa văn hóa của dân tộc.
Theo kinh nghiệm của nhiều địa phương, việc đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp cho lao động nông thôn có ba cấp độ khác nhau: 1) đào tạo cho những lao động phổ thông chưa biết nghề để họ có ít nhất một nghề thông thạo; 2) bổ sung những kiến thức, kỹ năng mới cho những người đã có nghề nhưng tay nghề chưa đủ mức thành thạo, để họ trở thành thợ giỏi; và 3) bổ túc kiến thức khoa học, công nghệ mới cho nghệ nhân để số này cập nhật được những kiến thức mới, công nghệ mới.
Do đó, cần có chương trình, giáo trình phù hợp, với những phương thức dạy nghề linh hoạt. Trong các làng nghề, đã có kinh nghiệm các hội, hiệp hội nghề nghiệp chủ trì tổ chức những lớp dạy nghề ngay tại mỗi làng nghề: học viên là lao động trong làng hoặc làng bên (đi lại thuận tiện), thầy dạy là những nghệ nhân, thợ giỏi trong từng ngành nghề, có thể là nghệ nhân của ngay làng nghề ấy. Nhà nước trợ giúp một số kinh phí về xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề, thù lao cho giảng viên…
Cách học cũng rất thiết thực: không phải là “truyền khẩu”, dạy miệng, dạy chay như trước đây, mà nay cũng đã có giáo trình bài bản, lại có thêm những công cụ hiện đại (như băng, đĩa hình…) trợ giúp cho việc học tập, truyền nghề. Song điều quan trọng là nghệ nhân có điều kiện trực tiếp truyền đạt kiến thức thiết thực, đúc rút từ kinh nghiệm thực tế nhiều năm lao động cần cù của mình.
Nếu có sự tham gia của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, việc đào tạo lao động trong các ngành nghề thủ công ở nông thôn sẽ có điều kiện triển khai, đem đến những kết quả thiết thực, đáp ứng đúng yêu cầu với chi phí tiết kiệm, tránh được lãng phí, thất thoát.